Xác Định Đất Đai Là Tài Sản Chung Trong Hôn Nhân Có Yếu Tố Nước Ngoài
Đất đai chỉ đứng tên một bên là người Việt Nam có được coi là tài sản chung khi vợ chồng có yếu tố nước ngoài? Bài viết làm rõ căn cứ pháp lý và nguyên tắc xử lý khi phát sinh tranh chấp, ly hôn.
Trong thực tiễn, nhiều cặp vợ chồng mà một bên là công dân Việt Nam, một bên là người nước ngoài gặp vướng mắc khi mua bán và đứng tên quyền sử dụng đất tại Việt Nam. Do pháp luật không cho phép người nước ngoài đứng tên quyền sử dụng đất nên sổ đỏ thường chỉ ghi tên vợ hoặc chồng là người Việt Nam, dẫn đến tranh chấp khi quan hệ hôn nhân rạn nứt.
1. Pháp luật áp dụng
Theo khoản 1 Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, việc ly hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài được giải quyết tại Việt Nam và theo pháp luật Việt Nam. Đối với tài sản là bất động sản, khoản 3 Điều 127 quy định phải áp dụng pháp luật của nước nơi có bất động sản. Do đó, đất đai tại Việt Nam bắt buộc áp dụng pháp luật Việt Nam để giải quyết.
2. Đất đứng tên một người có phải tài sản chung?
Căn cứ Điều 33 và Điều 34 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, tài sản được tạo lập trong thời kỳ hôn nhân được xác định là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp có căn cứ chứng minh là tài sản riêng. Việc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chỉ đứng tên một người không làm thay đổi bản chất tài sản chung nếu đất được hình thành trong thời kỳ hôn nhân.
3. Quyền của người nước ngoài đối với đất là tài sản chung
Luật Hôn nhân và gia đình 2014 không phân biệt quốc tịch trong việc xác lập quyền và nghĩa vụ tài sản giữa vợ và chồng. Vì vậy, mặc dù không được đứng tên quyền sử dụng đất, người nước ngoài vẫn có quyền đối với phần giá trị tài sản của mình trong khối tài sản chung của vợ chồng.
4. Có được đơn phương bán đất không?
Theo khoản 2 Điều 35 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, việc định đoạt tài sản chung là bất động sản phải có sự thỏa thuận bằng văn bản của cả hai vợ chồng. Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải được công chứng theo Luật Đất đai 2024 và khi công chứng phải xuất trình giấy tờ chứng minh tình trạng hôn nhân theo Luật Công chứng 2024. Do đó, không thể đơn phương bán đất dù sổ đỏ chỉ đứng tên một người.
5. Nguyên tắc chia đất khi ly hôn
Theo Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, tài sản chung được chia theo nguyên tắc chia đôi nhưng có xem xét công sức đóng góp, hoàn cảnh và lỗi của mỗi bên. Trường hợp không thể chia bằng hiện vật thì chia bằng giá trị. Do người nước ngoài không thuộc đối tượng được đứng tên quyền sử dụng đất theo Luật Đất đai 2024, Tòa án thường giao đất cho bên là công dân Việt Nam và buộc thanh toán cho bên còn lại phần giá trị tài sản tương ứng.
Khuyến nghị của luật sư
Tranh chấp đất đai trong hôn nhân có yếu tố nước ngoài thường phức tạp và tiềm ẩn nhiều rủi ro pháp lý. Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp, các bên nên chủ động liên hệ luật sư ngay khi phát sinh vướng mắc liên quan đến đứng tên sổ đỏ, mua bán, chuyển nhượng hoặc phân chia đất khi ly hôn, nhằm được tư vấn và hỗ trợ kịp thời, đúng quy định pháp luật.